KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ CHIẾN LƯỢC 22/10/2026

I. THẾ GIỚI

1. Chạy mô hình trí tuệ nhân tạo trên chip chuyên dụng mà không phải viết lại mã nguồn
Amazon Web Services (AWS), nền tảng dịch vụ điện toán đám mây của Amazon, phát triển TorchNeuron để hỗ trợ chạy mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) trên các bộ xử lý Trainium do hãng thiết kế. Công cụ này cho phép lập trình viên sử dụng PyTorch — một nền tảng phần mềm phổ biến để xây dựng và huấn luyện mô hình AI — trên phần cứng chuyên dụng của Amazon mà không phải viết lại toàn bộ chương trình.
Thông thường, khi chuyển mô hình AI từ một loại chip sang loại chip khác, lập trình viên có thể phải điều chỉnh mã nguồn, cách thực hiện phép tính và cách phân bổ dữ liệu để phù hợp với phần cứng mới. TorchNeuron hướng tới giảm bớt công việc đó, cho phép người dùng bắt đầu bằng những thay đổi cấu hình và tiếp tục sử dụng các công cụ quen thuộc của PyTorch. Công cụ hỗ trợ cả cách thực thi từng lệnh và cơ chế biên dịch chương trình để tối ưu quá trình tính toán.
AWS công bố mã nguồn TorchNeuron theo giấy phép Apache 2.0, cho phép cộng đồng sử dụng và phát triển phần mềm theo các điều kiện của giấy phép này. Reuters cho biết một nhóm khách hàng ban đầu đang thử nghiệm công cụ. Việc hỗ trợ phần mềm lập trình phổ biến giúp giảm trở ngại khi chuyển các ứng dụng AI sang chip Trainium, nhưng hiệu quả thực tế vẫn phụ thuộc vào mô hình và khối lượng công việc cụ thể.
Nguồn:
https://aws.amazon.com/about-aws/whats-new/2026/10/aws-announce-native-pytorch-support-trainium/\
https://www.reuters.com/business/retail-consumer/amazon-says-its-ai-chips-will-work-with-popular-coding-language-challenging-2026-10-19/


2. Robot hình người thực hiện 55 thao tác để chế biến kem Oreo Blizzard
Robot hình người North của công ty Sharpa được triển khai tại một cửa hàng Dairy Queen ở Thượng Hải, Trung Quốc, để thực hiện quy trình chế biến món kem Oreo Blizzard. Hệ thống được thiết kế để làm theo các bước trong quy trình phục vụ tại cửa hàng, thay vì chỉ thực hiện một động tác riêng lẻ.
Theo thông tin từ đơn vị triển khai, robot thực hiện tổng cộng 55 thao tác, sử dụng thiết bị và quy trình sẵn có tại cửa hàng. Để hoàn thành món kem, robot phải phối hợp các chuyển động liên tiếp, lấy và xử lý nguyên liệu, đồng thời thao tác với dụng cụ chế biến. Đây là dạng tự động hóa yêu cầu hệ thống nhận biết vị trí đồ vật, điều khiển chuyển động và thực hiện các bước theo đúng trình tự.
Ở giai đoạn triển khai ban đầu, robot chỉ phục vụ món Oreo Blizzard. Thông tin từ phía Thượng Hải cho biết tốc độ xử lý mỗi đơn hàng còn chậm hơn nhân viên con người, khoảng hai lần. Vì vậy, kết quả hiện tại thể hiện khả năng robot thực hiện một quy trình phục vụ có nhiều bước trong môi trường cửa hàng thực tế.
Nguồn:
https://www.sharpa.com/pages/sharpa-dq\
https://touch.shio.gov.cn/jsp/zfxw_detail.jsp?id=20260901175813382


3. Pin dòng chảy sử dụng thiếc đạt hiệu suất năng lượng 89% trong thử nghiệm

Một nhóm nghiên cứu phát triển loại pin dòng chảy sử dụng thiếc làm vật liệu tham gia phản ứng điện hóa. Khác với pin thông thường, trong đó vật liệu lưu trữ năng lượng nằm bên trong các điện cực, pin dòng chảy lưu trữ năng lượng trong dung dịch điện phân chứa các chất có khả năng nhận và nhường electron. Dung dịch được bơm qua một ngăn điện hóa để nạp hoặc phát điện.
Trong hệ thống này, thiếc tham gia phản ứng chuyển đổi thuận nghịch giữa dạng ion thiếc và thiếc kim loại. Khi nạp điện, phản ứng làm thay đổi trạng thái hóa học của vật liệu; khi phát điện, phản ứng diễn ra theo chiều ngược lại để giải phóng năng lượng. Nhóm nghiên cứu kết hợp hệ thiếc với các phức chất iodide trong dung dịch điện phân nhằm thực hiện quá trình lưu trữ và giải phóng điện năng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu suất năng lượng đạt 89% ở mật độ dòng điện 40 mA/cm². Hiệu suất năng lượng phản ánh tỷ lệ điện năng thu lại khi xả so với điện năng đưa vào khi nạp. Hệ thống cũng đạt dung lượng thể tích 227 Ah/L và mật độ năng lượng 205 Wh/L. Một cụm pin ở quy mô kilowatt được báo cáo vận hành ổn định hơn 1.000 giờ.
Các kết quả trên được ghi nhận trong điều kiện thử nghiệm của nghiên cứu. Để đánh giá khả năng sử dụng trong hệ thống lưu trữ điện quy mô lớn, còn cần xem xét tuổi thọ dài hạn, chi phí chế tạo, độ an toàn và hiệu suất khi vận hành ở quy mô thương mại.
Nguồn:
https://www.nature.com/articles/s41557-026-02275-7


4. Vắc-xin ung thư cá thể hóa ghi nhận 16 bệnh nhân chưa tái phát trong thời gian theo dõi trung vị 41 tháng

Công ty công nghệ sinh học Transgene của Pháp và Tập đoàn NEC của Nhật Bản đang phát triển TG4050, một loại vắc-xin điều trị ung thư được thiết kế riêng cho từng bệnh nhân. Khác với vắc-xin phòng bệnh truyền nhiễm, vắc-xin này nhằm giúp hệ miễn dịch nhận diện các dấu hiệu đặc trưng của tế bào ung thư đã xuất hiện trong cơ thể.
Quy trình bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm di truyền của khối u và so sánh với tế bào bình thường để xác định các đột biến có thể tạo ra kháng nguyên mới. Kháng nguyên là những dấu hiệu mà hệ miễn dịch có thể nhận biết. Hệ thống trí tuệ nhân tạo của NEC hỗ trợ lựa chọn những kháng nguyên được dự đoán có khả năng kích thích phản ứng miễn dịch. Vắc-xin sau đó được thiết kế để hướng hệ miễn dịch nhận diện các dấu hiệu này.
Theo kết quả được hai công ty công bố, trong nhóm 16 bệnh nhân được điều trị và theo dõi với thời gian trung vị 41 tháng, chưa ghi nhận trường hợp tái phát nào. Ở nhóm đối chứng gồm 16 bệnh nhân, có 3 trường hợp tái phát. Thời gian theo dõi trung vị 41 tháng có nghĩa là một nửa số bệnh nhân được theo dõi lâu hơn khoảng thời gian này và một nửa được theo dõi ngắn hơn.
Đây là kết quả từ một nhóm bệnh nhân nhỏ trong nghiên cứu lâm sàng giai đoạn đầu thuộc chương trình thử nghiệm giai đoạn 1/2. Kết quả chưa đủ để khẳng định hiệu quả của vắc-xin đối với mọi bệnh nhân hoặc mọi loại ung thư. Cần có các nghiên cứu tiếp theo với số lượng bệnh nhân lớn hơn và thời gian theo dõi dài hơn để đánh giá hiệu quả và độ an toàn.
Nguồn:
https://www.nec.com/en/press/202609/global_20260903_02.html


5. RNA nhỏ trong rễ cà chua liên quan đến sự thay đổi của cộng đồng vi sinh vật đất

Nghiên cứu trên cây cà chua khảo sát mối liên hệ giữa các phân tử RNA nhỏ trong rễ, cách bón phân và cộng đồng vi sinh vật sống quanh rễ cây. RNA nhỏ là những phân tử tham gia điều hòa hoạt động của gene; chúng có thể ảnh hưởng đến việc một số gene được biểu hiện mạnh hay yếu trong tế bào.
Nhóm nghiên cứu ghi nhận các phân tử RNA nhỏ của cà chua, trong đó có sly-miR159 và sly-miR319c-3p, liên quan đến những thay đổi trong cộng đồng vi sinh vật vùng rễ. Khu vực này chứa cả vi sinh vật gây bệnh và những vi sinh vật có lợi cho cây. Trong nghiên cứu, các tác nhân được xem xét bao gồm vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây bệnh héo xanh và những vi khuẩn có lợi như Bacillus subtilis và Streptomyces fradiae.
Các nhà nghiên cứu so sánh cây được bón phân hữu cơ với cây được bón phân hóa học. Sau sáu thế hệ thí nghiệm, chỉ số bệnh được báo cáo là 52,43% ở nhóm bón phân hữu cơ, so với 64,33% ở nhóm bón phân hóa học. Nghiên cứu cũng ghi nhận lượng tác nhân gây bệnh thấp hơn khoảng 92% trong cây và 94% trong đất vùng rễ ở điều kiện được báo cáo.
Các kết quả cho thấy mối liên hệ giữa điều kiện canh tác, hoạt động điều hòa gene của cây và thành phần vi sinh vật quanh rễ.
Nguồn:
https://www.nature.com/articles/s44383-026-00040-w\
https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC12228361/


II. VIỆT NAM


1. Hệ thống trí tuệ nhân tạo đánh giá chất lượng xoài và thanh long với độ chính xác trên 90%
Các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Đổi mới sáng tạo công nghệ cao thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phát triển hệ thống FruitAI/FruitMonitor để đánh giá chất lượng xoài và thanh long bằng trí tuệ nhân tạo.
Hệ thống sử dụng hình ảnh trái cây cùng dữ liệu về các chỉ tiêu chất lượng như độ chua, độ ngọt, hàm lượng vitamin C và một số thành phần khác. Bộ dữ liệu được giới thiệu gồm 14.400 hình ảnh có liên kết với các thông số chất lượng, giúp mô hình học cách nhận diện đặc điểm bên ngoài và đối chiếu với dữ liệu đo lường.
Công nghệ YOLOv8 được sử dụng để phát hiện và xác định vị trí đối tượng trong ảnh; mạng nơ-ron tích chập (CNN) được dùng để phân tích đặc trưng hình ảnh và hỗ trợ đánh giá. Đây là hai kỹ thuật học sâu thường được sử dụng trong các hệ thống nhận dạng hình ảnh. Việc kết hợp hình ảnh với dữ liệu đo chất lượng giúp xây dựng mô hình đánh giá dựa trên dữ liệu đã thu thập, thay vì chỉ dựa vào màu sắc hoặc hình dáng quan sát bằng mắt.
Theo thông tin của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, hệ thống đạt độ chính xác trên 94% đối với nhiệm vụ đánh giá chất lượng được báo cáo và trên 90% đối với phát hiện đối tượng. Sản phẩm được phát triển theo hướng có thể sử dụng qua ứng dụng web và thiết bị di động.
Các tỷ lệ chính xác này gắn với những nhiệm vụ và bộ dữ liệu đánh giá cụ thể của nghiên cứu. Khi áp dụng tại cơ sở thu mua, đóng gói hoặc sản xuất, hiệu quả còn phụ thuộc vào giống cây, điều kiện ánh sáng, cách chụp ảnh và sự phù hợp giữa dữ liệu thực tế với dữ liệu huấn luyện.
Nguồn:
https://vast.gov.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/cong-nghe-4-0-buoc-%C4%91ot-pha-ai-trong-%C4%91anh-gia-chat-luong-nong-san-viet-nam-150093-403.html\
https://vast.gov.vn/web/guest/de-tai-ct?_showview_WAR_VastCapGiayChungNhanDeTaiportlet_deTaiId=5184&_showview_WAR_VastCapGiayChungNhanDeTaiportlet_redirect=%2F\&p_p_col_count=9\&p_p_col_id=column-2\&p_p_col_pos=6\&p_p_id=showview_WAR_VastCapGiayChungNhanDeTaiportlet\&p_p_lifecycle=0


2. Hệ thống robot tự hành hỗ trợ chia chọn tới 1,4 triệu bưu phẩm mỗi ngày

Tổ hợp chia chọn thông minh của Viettel Post tại Quang Minh, Hà Nội, sử dụng nhiều thiết bị tự động để xử lý bưu phẩm theo luồng vận chuyển. Hệ thống kết hợp xe tự hành AGV (Automated Guided Vehicle — phương tiện tự hành vận chuyển hàng hóa trong khu vực làm việc), thiết bị chia chọn dạng ma trận Wheel Sorter Matrix và băng chuyền chia chọn Cross-belt Sorter.
Trong quy trình này, bưu phẩm được đưa vào hệ thống, nhận diện thông tin và chuyển đến cửa hoặc tuyến phân loại tương ứng. Xe tự hành có thể vận chuyển hàng giữa các vị trí trong khu vực vận hành; thiết bị chia chọn đưa từng kiện hàng đến vị trí tiếp theo theo lệnh điều khiển. Việc tự động hóa các công đoạn này giúp giảm khối lượng thao tác thủ công khi xử lý lượng hàng lớn.
Theo thông tin được công bố, tổ hợp có hơn 40 cửa nhập và xuất, khoảng 1.200 cửa chia chọn và năng lực xử lý tới 1,4 triệu bưu phẩm mỗi ngày. Hệ thống được giới thiệu trong chuỗi giải pháp tự động hóa logistics của Viettel Post, với tổng năng lực xử lý được công bố cho toàn hệ thống lên tới 4 triệu bưu phẩm mỗi ngày.
Hoạt động vận hành còn được hỗ trợ bởi trung tâm điều hành mạng (NOC), camera ứng dụng trí tuệ nhân tạo và bản sao số (Digital Twin) — mô hình số mô phỏng hệ thống thực để theo dõi, phân tích hoạt động. Viettel Post cho biết giải pháp hướng tới rút ngắn thời gian vận chuyển, tối ưu nhân lực và nâng cao khả năng kiểm soát quá trình chia chọn. Các con số về năng lực xử lý là thông số công bố của hệ thống, không đồng nghĩa với sản lượng thực tế mỗi ngày luôn đạt mức tối đa.
Nguồn:
https://mst.gov.vn/viettel-post-khai-truong-to-hop-cong-nghe-chia-chon-thong-minh-dau-tien-cua-viet-nam-197240118084220345.htm\
https://baochinhphu.vn/viettel-cong-bo-chuoi-giai-phap-tu-dong-hoa-nganh-logistics-102241001162159207.htm


3. Phụ gia nano giúp nhựa khó bắt cháy nhưng vẫn duy trì độ bền cơ học

Nhóm nghiên cứu do Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Mai Hà thuộc Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, thực hiện nghiên cứu các phụ gia nano lai nhằm cải thiện khả năng chống cháy của vật liệu polymer. Polymer là nhóm vật liệu có phân tử cấu tạo từ những đơn vị lặp lại, bao gồm nhiều loại nhựa và vật liệu đàn hồi được sử dụng trong sản xuất.
Khi nhựa gặp nhiệt độ cao, vật liệu có thể phân hủy và tạo ra các chất dễ cháy. Một số phụ gia chống cháy hoạt động bằng cách làm chậm quá trình phân hủy, hình thành lớp bảo vệ trên bề mặt hoặc hạn chế sự tiếp xúc giữa nhiên liệu và oxy. Tuy nhiên, nếu bổ sung phụ gia không phù hợp, vật liệu có thể trở nên giòn hoặc giảm độ bền cơ học.
Nhóm nghiên cứu khảo sát các hệ phụ gia lai như DOPO-LDH, MOF-DOPO và HNT@DA trên những vật liệu nền khác nhau, gồm polyethylene mật độ cao (HDPE), bọt polyurethane (PU) và nhựa epoxy. Đây là các loại vật liệu được sử dụng trong nhiều ứng dụng công nghiệp, từ sản phẩm nhựa đến vật liệu cách điện và kết cấu.
Theo thông tin được công bố, một số công thức đạt cấp UL-94 V-0 trong thử nghiệm chống cháy. UL-94 là phương pháp phân loại khả năng cháy của vật liệu nhựa trong điều kiện thử nghiệm xác định; cấp V-0 thể hiện yêu cầu nghiêm ngặt về thời gian cháy và hiện tượng nhỏ giọt gây cháy theo phép thử này. Với vật liệu epoxy, độ bền kéo được báo cáo ở mức khoảng 61 MPa. Nhóm nghiên cứu cũng thực hiện các mẻ thử nghiệm quy mô nhỏ, gồm khoảng 1 kg vật liệu PE và 100 g bọt PU.
Kết quả được báo cáo ở quy mô nghiên cứu và thử nghiệm nhỏ. Để xác định khả năng ứng dụng trong sản xuất, cần xem xét thêm tính ổn định khi gia công, độ bền trong điều kiện sử dụng và khả năng duy trì các tính chất của vật liệu sau khi bổ sung phụ gia.
Nguồn:
https://soha.vn/viet-nam-che-tao-vat-lieu-moi-giup-nhua-kho-ben-lua-tiem-nang-ung-dung-trong-nhieu-nganh-19826071714545984.htm\
https://gust.edu.vn/media/31/uftai-ve-tai-day31517.pdf


4. Bộ sinh phẩm xét nghiệm nhanh phát hiện tác nhân gây sốt mò và bệnh xoắn khuẩn

Các sinh phẩm chẩn đoán nhanh được phát triển để phát hiện tác nhân gây một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, trong đó có bệnh sốt mò và bệnh do vi khuẩn Leptospira gây ra. Chẩn đoán sớm có vai trò quan trọng vì các bệnh này có thể biểu hiện bằng sốt và những triệu chứng ban đầu không đặc hiệu, dễ nhầm với các bệnh nhiễm trùng khác.
Một trong những kỹ thuật được sử dụng là khuếch đại DNA đẳng nhiệt qua trung gian tái tổ hợp polymerase (RPA — Recombinase Polymerase Amplification). DNA là vật liệu di truyền của nhiều tác nhân gây bệnh. Kỹ thuật RPA khuếch đại một đoạn DNA mục tiêu ở nhiệt độ tương đối ổn định, không cần chu trình thay đổi nhiệt độ như phản ứng chuỗi polymerase thông thường. Nhờ đó, quá trình xét nghiệm có thể được rút ngắn và thiết bị thực hiện có thể đơn giản hơn trong một số cấu hình.
Sinh phẩm phát hiện Orientia tsutsugamushi, tác nhân gây bệnh sốt mò, có độ nhạy 98,1% và độ đặc hiệu 100% khi thử nghiệm trên nhóm đối chứng khỏe mạnh; thời gian xét nghiệm được báo cáo dưới 10 phút. Đối với sinh phẩm phát hiện Leptospira, độ nhạy được báo cáo là 98,52% và độ đặc hiệu 98,91% trên nhóm đối chứng khỏe mạnh.
Độ nhạy phản ánh khả năng phát hiện đúng người có tác nhân hoặc tình trạng cần xét nghiệm; độ đặc hiệu phản ánh khả năng cho kết quả âm tính đúng ở người không có tình trạng đó. Các tỷ lệ trên cần được hiểu theo nhóm mẫu và điều kiện thử nghiệm đã báo cáo, không thể tự động xem là độ chính xác trong mọi tình huống khám chữa bệnh. Thông tin cũng đề cập sinh phẩm phản ứng chuỗi polymerase thời gian thực sử dụng đầu dò TaqMan để phát hiện Neisseria meningitidis, vi khuẩn có thể gây bệnh viêm màng não mô cầu.
Nguồn:
https://mst.gov.vn/phat-trien-sinh-pham-chan-doan-nhanh-benh-truyen-nhiem-nguy-hiem-197261020144047164.htm


5. Vi khuẩn quang hợp được thử nghiệm để tăng năng suất lúa và giảm lượng phân bón
Giáo sư Trần Đăng Xuân thuộc Viện Nghiên cứu và Phát triển, Đại học Hiroshima, Nhật Bản, nghiên cứu ứng dụng vi khuẩn quang hợp (PSB — Photosynthetic Bacteria) trong canh tác lúa. Đây là nhóm vi khuẩn có khả năng sử dụng năng lượng ánh sáng để thực hiện các quá trình chuyển hóa; một số chủng có thể tham gia chu trình dinh dưỡng và tương tác với cây trồng, tùy đặc tính của từng chủng và điều kiện môi trường.
Trong hướng nghiên cứu này, vi khuẩn được sử dụng như một tác nhân sinh học hỗ trợ canh tác, nhằm cải thiện điều kiện phát triển của cây và hiệu quả sử dụng chất dinh dưỡng. Cách tiếp cận này khác với việc chỉ bổ sung phân bón hóa học, bởi kết quả còn phụ thuộc vào hoạt động của vi sinh vật, đất, nước và các điều kiện sinh trưởng.
Theo thông tin được công bố về các thử nghiệm tại Việt Nam và Nhật Bản, một số thí nghiệm ghi nhận năng suất lúa tăng khoảng 20%. Trong một số điều kiện thử nghiệm khác, lượng phân bón NPK — loại phân cung cấp nitơ (N), phốt pho (P) và kali (K) — được giảm xuống còn một nửa mức thông thường mà sản lượng thu hoạch vẫn tương đương với nhóm sử dụng đầy đủ lượng phân bón tiêu chuẩn.
Các kết quả này thuộc những điều kiện thử nghiệm cụ thể, chưa chứng minh rằng có thể giảm một nửa lượng phân bón trên mọi giống lúa, loại đất hoặc mùa vụ. Hiệu quả cần được đánh giá theo từng vùng canh tác, loại đất, cách sử dụng vi khuẩn và điều kiện thời tiết trước khi áp dụng rộng rãi.
Nguồn:
https://vietnamnews.vn/society/1802112/farming-smarter-not-harder-a-hiroshima-researcher-s-plan-for-vietnamese-rice.html\
https://en.vietnamplus.vn/vietnamese-scientist-in-japan-advances-research-training-technology-transfer-for-homeland-post353486.vnp


Văn phòng 57 Bộ KH&CN tổng hợp


Posted

in

by

Tags:

Comments

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *